Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Tại sao tôi lại đi viết hồi ký ở cái tuổi lưng chừng đời thế này?

Thường thì người ta chỉ viết hồi ký khi về hưu, lúc nhàn rỗi kể lại những việc đã trải qua của một đời người.

Tuy nhiên, cuộc đời tôi trong sáu năm qua đã xảy ra quá nhiều biến động như một kiếp người mà đến bây giờ tôi mới có được chút cảm giác “chân chạm đất” và được sống “bình lặng” dù mới chỉ là hai tháng.

Trong sáu năm, tôi đã đi khắp đất nước Việt Nam, chưa kể những địa danh tôi ưa thích như Mũi Né, Nha Trang và Vịnh Hạ Long tôi đã đi trên dưới hai mươi lần.

Hôm nay tôi mới ngồi đếm số visa trong hai quyển hộ chiếu của tôi (một quyển hết chỗ đóng visa nên phải xin thêm một quyển nữa) và tôi đã thống kê được số visa đi nước ngoài (trong sáu năm) như sau:

– Campuchia (1 lần)

– Thái Lan (22 lần); tôi đã từng sống và làm việc ở Bangkok

– Trung Quốc (4 lần)

– Macau(1 lần)

–  Hongkong (sân bay; có cả 1 câu chuyện ở đây)

– Myanmar(4 lần); tôi đã sống vài tháng ở Yangon

– Singapore (5 lần)

– Malaysia(3 lần)

– Sri Lanka(5 lần); tôi đã sống ở cả 2 thành phố Colombo và Kandy

– Ấn Độ (1 lần)

– Australia(2 lần); tôi đã sống, học tập và làm việc ở Sydney

– Thụy Điển (1 lần)

– Hà Lan (1 lần)

– Thụy Sỹ (2 lần); hiện tôi đang sống và làm việc ở Geneva

Tôi không khỏi suy nghĩ:

Nếu tính trung bình một chuyến đi tương đương với 1.000 USD (bao gồm cả tiền ăn ở, khách sạn, vé máy bay, visa) thì không biết là tôi đã tiêu bao nhiêu tiền vào việc đi du lịch trong sáu năm qua.

Mà giờ đây tôi chỉ có hai bàn tay trắng, tài sản vật chất không có gì ngoài mấy bộ quần áo và mấy đôi giầy.

Mấy lần về Việt Nam gặp gỡ bạn bè, đứa thì khoe mua nhà hơn 1 tỉ, đứa thì khoe mua xe hơi… nhìn lại mình… chả nhẽ khoe “tao mới mua đôi giày”…

Tuy nhiên tôi lại tự hãnh diện vì mình được đi nhiều, học được nhiều điều mà trường lớp, sách vở không dạy được mà tiền bạc cũng không mua được.

Các cụ đã nói “đi một ngày đàng – học một sàng khôn” thì cấm có sai.

Càng đi nhiều tôi càng thấm thía chân lý cuộc sống và tôi đã tìm được con đường sống cho riêng mình.

Tôi muốn viết nhiều lắm.

Tôi muốn viết về chế độ độc tài quân sự ở Myanmar và nỗi thống khổ của người dân.

Tôi muốn viết về sự tiến bộ của Thái Lan, một nước láng giềng mà mình phải học tập.

Tôi muốn viết về đời sống xã hội của Trung Quốc; về một câu chuyện lãng mạn giữa tôi với một người con trai Trung Hoa.

Tôi muốn viết về nền giáo dục tuyệt vời của Úc; về một môi trường xã hội văn minh.

Tôi muốn viết về cuộc nội chiến ngu ngốc ở Sri Lanka giữa Chính phủ và Những Con Hổ giải phóng Tamil.

Và còn rất nhiều những câu chuyện về mối quan hệ cá nhân tôi với những người dân địa phương; về sự mâu thuẫn Văn hóa các nước….

Trong sáu năm tôi đã được gặp gỡ nhưng rồi cũng đã phải tiễn đưa hai người bạn, người thầy vĩ đại về cõi vĩnh hằng.

Trong  sáu năm tôi đã được nhận làm con nuôi ở ba gia đình thuộc ba quốc gia khác nhau là Trung Quốc, Thái Lan, và Australia.

Trong sáu năm tôi đã bỏ đi – yêu lại một người đến bốn lần

Trong sáu năm tôi đã làm cô dâu trong hai đám cưới

Trong sáu năm tôi đã hai lần thoát chết: một lần trong vụ đánh bom cảm tử ở Sri Lankavà một lần trong vụ tai nạn xe hơi trên đường ra sân bay Colombo

Tôi đã từng bị Cảnh sát Hongkong áp giải trao trả cho Cảnh sát Macau

………

Mọi chuyện chỉ bắt đầu khi tôi đã bứt phá, từ chối một cuộc sống áp đặt đời thường mà bao thế hệ phụ nữ Việt Nam đã trải qua và ngay cả thế hệ tôi bây giờ cũng vậy.

Các bạn có thể thấy trong các chương đầu hầu như tôi chỉ nói đến sự khủng hoảng giữa các mối tình cá nhân.

Đó không đơn thuần chỉ là việc kể khổ mà có nhiều những suy nghĩ trăn trở trong đó.

Tôi muốn thay mặt cho chị em phụ nữ lên tiếng với cánh đàn ông Việt Nam, những người có bản chất tốt nhưng đôi khi lại quá vô tâm và ích kỉ với người yêu, người vợ của mình mà đánh mất tình yêu – hạt giống hạnh phúc gia đình.

Những câu chuyện tôi viết ra đây đều là chuyện thật đời tôi, với những suy tư về những gì tôi đã trải nghiệm.

Tôi hy vọng từ những câu chuyện của tôi các bạn sẽ có niềm tin và sự mạnh mẽ đấu tranh cho niềm tin của mình.

Hãy luôn tin rằng bạn sẽ được hạnh phúc bởi vì bạn đã sẵn có cái quyền được hưởng hạnh phúc rồi, chỉ cần bạn bảo vệ được cái quyền đó của mình thôi.

Đã có lúc tôi mất niềm tin hoàn toàn nghĩ rằng số phận của mình thật kém may mắn, chết đi có lẽ sướng hơn.

Nhưng chết là hết và chết thì dễ hơn sống nhiều.

Sống và sống sao cho có ý nghĩa là đã cả một nấc thang dài.

Tôi đã phải trải qua bao sóng gió, đấu tranh cho niềm tin và hạnh phúc của chính mình thì mới có được ngày hôm nay ngồi đây – thanh thản viết những dòng chữ này.

Tôi tự nhận thấy những kinh nghiệm tôi đã trải qua là vô cùng quí báu và tôi đã bắt đầu viết.

Tôi không viết để lấy lòng độc giả với những chi tiết thêm thắt bay bướm.

Tôi chỉ trải lòng mình với suy tư  của một người con gái nước Việt đã may mắn được đi đây đi đó và viết những gì mắt thấy tai nghe.

Góc nhìn của tôi có thể hoàn toàn khác so với những gì bạn nghe được trên đài báo, đặc biệt là đài CNN (vì nhiều nước cũng mua tin từ đài này).

Tôi đã ở đó trực tiếp chứng kiến đời sống của những người dân địa phương nơi tôi đã đi qua và tôi biết nhiều tin là sai sự thật.

CNN không chỉ là một hãng tin toàn cầu lớn nhất thế giới mà nó còn là cơ quan tuyên truyền của Mỹ, chỉ nói những điều có lợi cho nước Mỹ mà thôi.

Nói như vậy không phải tôi phê phán CNN mà thực tế là tôi suốt ngày chỉ xem đài CNN để cập nhật tin tức.

Ý tôi muốn nói ở đây là “không phải tất cả những gì đài báo đưa tin là đúng 100%”, đằng sau những tin tức đó còn nhiều điều uẩn khúc không được nói đến nhằm có lợi cho chiến lược mị dân của Mỹ”.

Các bạn có thể ngạc nhiên đến sửng sốt nếu như tôi nói rằng:

Phần lớn người dân Iraq yêu quí Saddam Hussein và họ thà có Saddam Hussein làm lãnh đạo còn hơn là để Mỹ nhúng tay vào giúp”.

Và thực tế bây giờ các bạn có thể thấy cái “đống hoang tàn đổ nát” mà Mỹ đã để lại sau khi “giúp” đất nước này như thế nào.

Ta hãy tự đặt mình vào địa vị của họ – những người dân Iraq xem…

Tôi không phản đối Mỹ mặc dù ở nước nào Mỹ cũng nhúng mũi vào chuyện chính sự, tôi chỉ phản đối chiến tranh và đặc biệt là cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Iraq.

Tôi sẽ không đi sâu về vấn đề chính trị mà ở đây tôi chỉ muốn bày tỏ một cái nhìn khách quan trên toàn cảnh diện rộng.

Lẽ dĩ nhiên tôi mong những gì tôi viết được nhiều người cùng đọc và suy ngẫm.

Sự góp ý của các bạn sẽ giúp tôi tiến bộ hơn trong văn phong và tôi rất cảm ơn những người đã, đang và sẽ ủng hộ tôi viết, gợi ý những đề tài đang được quan tâm ở Việt Nam.

Biết đâu một ví dụ về sự thành công của một quốc gia nào đó trong lĩnh vực tương tự lại có thể giúp ta tiến bộ hơn.

Dù sao tôi cũng là một người yêu nước muốn đóng góp chút kiến thức nhỏ nhoi của mình.

Tác giả: Tâm Phan

Geneva14/11/2007

Nguồn: Facebook

Ngày 15/05 vừa qua, Nhà xuất bản Thanh niên vừa phát hành quyển sách Lý thuyết Âm nhạc Căn bản của Thạc sĩ – Nhạc trưởng Nguyễn Bách.

Nhạc sĩ Bách sống ở Châu Âu 10 năm, phần lớn ở Munich, Đức, một đất nước có nền khí nhạc nổi tiếng thế giới.

Dù nội dung sách là vấn đề học thuật, nhưng nhạc sĩ đã trình bày bằng một ngôn ngữ rất dễ hiểu.

Những đầu sách nghiên cứu âm nhạc một cách có hệ thống như vậy lại rất thiếu ở Việt Nam ta.

Từ trước đến nay, đến các nhà sách lớn, hầu như chỉ thấy các tập ca khúc nhạc trẻ trong và ngoài nước, còn sách nhạc lý thì quá giản lược.

Với khoảng 40 quyển sách đã viết về âm nhạc, có lẽ nhạc sĩ Bách là một trong những tác giả hiếm hoi, dành nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu âm nhạc.

Ngoài vài chục đầu sách khác về Hòa âm, Chỉ huy, Hợp xướng, Kỹ thuật phòng thu cho đến Tự điển thuật ngữ âm nhạc Anh-Pháp-Đức-Ý v.v…), có thể nói Lý thuyết Âm nhạc Căn bản là một trong những quyển sách rất đáng để đọc dành cho người yêu nhạc/học nhạc/chơi nhạc.

Đặc biệt trong quyển sách này, chuyên gia tài chính ngân hàng kiêm nhạc sĩ Trần Trọng Quốc Khanh, cộng tác viên của Văn đàn ACS Việt Nam tại Singapore đã tham gia với vai trò chính về hiệu đính ngôn ngữ và tư vấn về nội dung.

Lời anh

 

Em như cơn gió thoảng qua

Em như ngọn sóng trôi xa , xa rồi.

Cần chi cơn gió em ơi .

Cần chi ngọn sóng giữa đời bao la.

Đừng nhớ anh mỗi chiều tà

Đừng nhìn ảnh cũ ,lệ nhòa ánh dương

Cùng em chỉ một đoạn đường

Chia tay em nhé đừng vương tơ lòng.

Tác giả: Thu Mỹ

Khoảnh khắc Hector ngã xuống dưới ngọn lao của Achilles dưới chân thành Troycũng là khoảnh khắc chàng dũng sỹ đi vào tâm thức của nhân loại như biểu tượng về một phẩm giá cá nhân và tài năng mang tính thời đại. 

Đó là nhân vật hiếm hoi trong thần thoại Hy Lạp chiến đấu không phải cho danh vọng, oán thù hay khát khao quyền lực mà chàng chiến đấu để bảo vệ chính quê hương mình, gia đình mình, nhân dân mình. 

Hector với trí tuệ và hiểu biết của mình đã phản đối chiến tranh. 

Nhưng khi chiến tranh xảy ra, chính Hector không do dự khi đối đầu với một Achilles mình đồng da sắt, một việc không khác gì tìm đến cái chết trong khi chàng có thể có những lựa chọn khác.

Nhân cách ấy, tài năng ấy và tinh thần ấy đã đưa Hector vào bất tử. 

Chàng trở thành một trong số Chín Hiệp Sĩ Được Kính Trọng để sánh vai cùng Alexander đại đế, Julius Caesar,  vua Arthur, hoàng đế Charle-magne.

Việt Nam rất cần những anh hùng. 

Tuy nhiên, những anh hùng của thời hiện đại không thể giống những Hector, Turnus hay Kinh Kha ngày trước.  

Cả thế giới đang bước vào thời kỳ mà trí thức quyết định phần lớn những tiến bộ trong xã hội. 

Người anh hùng của hiện tại trước hết phải là những người có trí tuệ, có trái tim, có tầm vóc văn hóa và kỹ năng đối thoại với thế giới. 

Trong bối cảnh đất nước đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính chất thời đại như biến đổi khí hậu, suy thoái kinh tế, khủng hoảng văn hóa thì khả năng hành động của những con người như vậy chính là chìa khóa để vươn lên.

Tác giả: Quý Thanh

Nguồn: http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2011/5/148932.cand

Ảo ảnh

Sao anh nỡ dối em

Cho ước mơ tắt lịm

Sầu tím cánh hạc hồng

Mùa đông dài vô tận

* * *

Sao anh không nói thật

Sưởi ấm cõi lòng em

Chốn đô thị hoa đèn

Vẫn chờ anh đơn độc

* * *

Dù tình kia là thật

Hay tình chỉ là mơ

Anh mãi là ảo ảnh

Em ôm trong hư vô.

* * *

Tình nào buồn hơn thế

Mà em vẫn chờ mong ?

Nhưng lòng em thầm nhủ :

Tình nào đẹp hơn không ?

* * *

Em vẫn cười trong nắng

Vẫn tươi tắn như hoa

Giấu tâm hồn héo úa

Có ai biết đâu mà

Tác giả: Thu Mỹ

Thị Nở là ai?

Tổ khoa học xã hội trường THCS Nhân Hậu, Lý Nhân, Hà Nam trong quá trình đi tìm tài liệu để làm tập Tư liệu “Sức sống Nam Cao”, đã sưu tầm được một số mẩu chuyện rất hấp dẫn, lý thú có liên quan đến tác phẩm của nhà văn Nam Cao.

Một trong các mẩu chuyện ấy là chuyện về nhân vật Thị Nở – “người yêu” của Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

Ông Trần Khang Hộ, người làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam, bạn học thuở nhỏ của nhà văn Nam Cao, con cụ Ký Lân – thầy dạy của nhà văn Nam Cao và một số cụ cao niên khác có kể câu chuyện sau:

Hồi ấy, ở làng Đại Hoàng có cô Trần Thị Nở, con ông Phó Kính – ông này làm nghề đóng cối xay nên gọi là phó. Thị Nở xấu xí, tính dở hơi, rất hay cười nên ông mới đặt tên là Trần Thị Nở.

Thị Nở chỉ biết làm việc vặt trong nhà và nhặt cỏ vườn.

Thị Nở thường làm bạn với cái chép cùn (có nơi gọi là cái dầm).

Tính thị dở hơi, rất vô tâm, sờ vào việc gì được một lúc là lăn ra ngủ, bất kể là đâu.

Thôi thì chân đống rạ, gốc chuối, bờ ao…

Có lần bà ngoại nhà văn Nam Cao (bà Vân) sai thị đi kín nước về ngâm sợi, mãi không thấy thị về, cho người đi tìm, thì ra thị đang ngủ ở gốc chuối.

Người làng ai cũng cười cái tật xấu ấy của thị.

Người ta kể cái “tài gia chánh” của thị như  sau:

Ông bố chồng của thị (ông Quản Dung) thường xuyên rày la thị về tội để cơm sống, cơm khê.

Những khi ấy, Thị Nở vênh mặt lên cãi lại bố chồng:

“Sống đâu mà sống, chỉ hơi sường sượng thôi mà!”.

Tuy thị xấu và dở hơi như vậy nhưng thị vẫn có chồng.

Chồng thị là anh Đào.

Anh này cùng cảnh làm thuê như Thị Nở.

Nhà nghèo lắm, phải mua chức trùm.

Thị Nở có ý vênh vang ra phết.

Anh chồng thì nai lưng ra làm để giả nợ.

Ăn ở với nhau được một thời gian thì thị sinh cho Đào một đứa con trai đặt tên là Trần Bá Xuyên.

Năm 14, 15 tuổi gì đó, Xuyên vào Sài Gòn theo người làng đi tìm chú là ông Ba Lễ, rồi mất ở Sài Gòn lúc còn trẻ.

Khi đã có gia đình rồi, Thị Nở vẫn còn làm thuê cho bà ngoại Nam Cao.

Nhà văn Nam Cao gọi Thị Nở là dì, còn Thị Nở gọi nhà văn là cháu.

Chuyện Thị Nở ở làng Đại Hoàng là có thật.

Nhưng với tài hư cấu của nhà văn, ông đã cho ra đời một Thị Nở có một không hai trong lịch sử văn học ViệtNam.

Nhờ có Thị Nở mà “Chí Phèo” mới nổi tiếng, mới sống mãi trong lòng người đọc.

Cũng nhờ có Thị Nở và Chí Phèo mà tên tuổi nhà văn Nam Cao đã tỏa sáng trên bầu trời văn học ViệtNam.

Nguồn: TPO

Nhiều thế hệ bạn đọc thắc mắc:

Vì sao nhà văn Nam Cao lại gắn cho nhân vật Chí cái tên Phèo?

Có 2 giai thoại, đều là do những người làng Đại Hoàng, quê hương Nam Cao và là bạn thân với nhà văn kể lại.

1.Rượu say rồi lại nằm phèo

Ở làng có một người tên Chí, quê quán ở đâu không rõ.

Chí người cao, to, béo, khoẻ, thường hay giúp nhà này nhà nọ trong làng khi có việc.

Các nhà có máu mặt trong làng thường thuê Chí đi đòi nợ.

Xong việc, học cho Chí vài xu đi uống rượu.

Cứ uống say là Chí lại nằm phèo ở điếm, từ đó mà người làng mới hay gọi là Chí Phèo!

2. Giỏi ‘bắt phèo’

Làng Đại Hoàng hồi ấy có lão Trương Pháo chuyên làm nghề giết lợn.

Ông này thường bắt ‘phèo’ để bán, vì món này được nhiều khác ưa chuộng.

Chí có ra làm thuê cho Trương Pháo, cũng ‘bắt phèo’ cho chủ bán.

Chí ‘bắt’ cũng ngon như chủ, làm khách ăn ai cũng khen ngon.

Từ đó, Chí có tên là Chí Phèo.